Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Vĩnh Phúc: Thực trạng công nghệ các dự án đầu tư

Nhóm nghiên cứu của Thạc sỹ Ngô Khánh Lân - Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ trong năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu "Điều tra thực trạng công nghệ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc" nhằm đánh giá thực trạng công nghệ tại các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh thuộc các ngành, lĩnh vực sản xuất.

Đề tài đã đi vào đánh giá thực trạng về từng lĩnh vực điều tra. Theo đó, trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, qua điều tra, khảo sát tại 18 doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng cho thấy: Các doanh nghiệp hàng năm đã cung cấp cho thị trường vật liệu xây dựng trong nước từ 100 - 300 triệu viên gạch, 100 triệu viên ngói, ngoài ra còn một lượng xuất khẩu sang các nước trong khu vực, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, đóng góp cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên mức độ tiên tiến về công nghệ và các thiết bị của các doanh nghiệp chưa cao (Trừ một vài doanh nghiệp hàng đầu như Prime Group; Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long...).

Việc đầu tư, cải tiến công nghệ, thiết bị còn chậm, nhất là với các công ty thuộc thành phần nhà nước trước đây. Trong lĩnh vực cơ khí, khảo sát tại 16 doanh nghiệp cơ khí cho thấy: Các doanh nghiệp hàng năm cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước những linh kiện, phụ tùng phục vụ cho sản xuất, lắp ráp...Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này phần lớn là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mức độ tiên tiến về công nghệ và thiết bị của các doanh nghiệp chưa cao, còn sử dụng nhiều lao động; việc đầu tư, cải tiến công nghệ, thiết bị còn chậm; trình độ lao động thấp, việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn TQM, ISO14000 của các doanh nghiệp còn hạn chế.

Đối với lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, khảo sát cho thấy, tuy quy mô, năng suất còn nhỏ nhưng các doanh nghiệp bước đầu đã cố gắng để đưa sản phẩm ra thị trường, tạo công ăn, việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân, 100% vốn đầu tư trong nước, công nghệ chưa tiên tiến nên dễ vận hành, nhiều thiết bị được chế tạo trong nước nên mức đầu tư ban đầu thấp. Công nghệ, thiết bị trong lĩnh vực này còn lạc hậu, mức độ tự động chưa cao, công suất nhỏ, sản lượng thấp, tiêu tốn nhiều nhiên liệu, sử dụng nhiều lao động thủ công.

Về lĩnh vực dệt may, da giầy, giấy, qua điều tra tại 11 doanh nghiệp cho thấy: Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này phần lớn là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, sản phẩm chủ yếu là xuất khẩu sang các nước. Công nghệ chưa tiên tiến nên dễ sử dụng, vận hành. Nhà xưởng và thiết bị đã xuống cấp nhưng chậm được đầu tư, đổi mới. Ở nhiều doanh nghiệp tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra, gây bức xúc trong nhân dân.

Về lĩnh vực điện, điện tử, phần lớn là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, sản phẩm vừa tiêu thụ trong nước, vừa xuất khẩu. Công nghệ và thiết bị tại các doanh nghiệp được khảo sát chưa cao, mức độ tự động hóa thấp, sử dụng nhiều lao động thủ công. Tại các lĩnh vực khác gồm: In ấn, cấp thoát nước, dược phẩm... cho thấy, nhìn chung công nghệ, thiết bị và mức độ tự động hóa của các doanh nghiệp chưa cao.

Qua đó có thể nhận thấy, các dự án đầu tư vào tỉnh ta có những ưu điểm như: Các dự án đầu tư trong và ngoài nước thời gian qua góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Các dự án đầu tư có xu hướng tăng mạnh, khẳng định sự đúng đắn trong phát triển kinh tế nhiều thành phần. Qua các dự án đầu tư góp phần làm cho trình độ công nghệ của tỉnh nhà phát triển, nhiều công nghệ, thiết bị mới được đưa vào sản xuất, bước đầu phát huy hiệu quả, làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Năng lực cán bộ quản lý, trình độ tay nghề của công nhân tăng lên, hình thành tác phong làm việc công nghiệp. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh được phát triển.

Tuy nhiên còn có một số hạn chế như: Phần lớn các doanh nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, năng lực nội tại yếu; kiến thức về khoa học và công nghệ, quản trị kinh doanh hạn chế, tỷ lệ lao động có chất lượng cao còn thấp. Mức độ tiên tiến, hiện đại của công nghệ, thiết bị đa số các doanh nghiệp chưa cao, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, xử lý môi trường chưa triệt để. Nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp có chất lượng thấp, thiếu sức cạnh tranh. Liên kết, hỗ trợ giữa các doanh nghiệp còn hạn chế, ít doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến.

Đề tài đã đi vào tìm hiểu 2 nhóm nguyên nhân. Nguyên nhân của những kết quả đạt được, bao gồm: Đường lối đổi mới của Đảng trong phát triển kinh tế; Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật phát triển mạnh mẽ: Nhiều sản phẩm được tích hợp, tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ mới; Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh khiến các nền kinh tế gần nhau hơn; Sự vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào tình hình cụ thể của tỉnh và sự phối hợp tốt giữa các Sở, ban, ngành, đoàn thể và chính quyền các cấp trong tỉnh trong thu hút đầu tư; Việc tìm kiếm, chuyển giao công nghệ trong các dự án đầu tư bước đầu được quan tâm.

Về nguyên nhân của những hạn chế, có nguyên nhân khách quan như: Cơ chế, chính sách của Nhà nước về đầu tư và phát triển khoa học công nghẹ còn nhiều bất cập, chưa khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ; Thị trường KHCN của nước ta nói chung, của Vĩnh Phúc nói riêng chưa phát triển; Vai trò của các tổ chức KH&CN còn hạn chế. Các dịch vụ chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Nguyên nhân chủ quan bao gồm các yếu tố: Ảnh hưởng của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp, các doanh nghiệp chậm chuyển đổi tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường; nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ chư cao; Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong doanh nghiệp còn rất hạn chế; Sự thông tin, phối hợp giữa các doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý Nhà nước còn hạn chế; Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về khoa học và công nghệ, nhân rộng mô hình, kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng, ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế; Công tác thẩm tra công nghệ, sự phối hợp với các ngành trong công tác thẩm tra chưa tốt nên chưa đánh giá được đầy đủ và toàn diện về các dự án đầu tư; Thủ tục vay vốn, hỗ trợ đổi mới công nghệ còn phức tạp, chưa đến được với nhiều doanh nghiệp; Chất lượng đào tạo tại các trường nghề chưa cao.

Như vậy, các dự án đầu tư trong và ngoài nước thời gian qua đã góp phần làm cho kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc phát triển mạnh, khẳng định đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng, trong đó có các thành phần kinh tế nước ngoài, kinh tế tư nhân là rất quan trọng. Thông qua các dự án đầu tư làm cho năng lực cán bộ quản lý, trình độ tay nghề của công nhân tăng, hình thành tác phong làm việc theo lối công nghiệp, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh phát triển. Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ, năng lực nội tại yếu, kiến thức về khoa học và công nghệ, quản trị kinh doanh hạn chế, tỷ lệ lao động có chất lượng còn thấp. Mức độ tiên tiến, hiện đại của công nghệ, thiết bị của đa số các doanh nghiệp chưa cao, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, xử lý môi trường chưa triệt để, nhiều sản phẩm sức cạnh tranh thấp, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính bao cấp, kinh tế tiểu thủ, cá thể, sản xuất chưa gắn với thị trường. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, rất mong các cấp, các ngành có liên quan sẽ có những giải pháp tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng công nghệ các dự án đầu tư trong tỉnh thời gian tới.

Thanh Niên
Trung tâm TTKHCN và Tin học